Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2022, tỷ lệ trẻ từ 11 đến 17 tuổi tại Việt Nam vận động thể lực không đủ theo khuyến nghị còn khá cao, 81% ở trẻ em nam và 92% ở trẻ em nữ. Thiếu vận động thể lực là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu mắc các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, thừa cân – béo phì.
Vận động thể lực thường xuyên ở trẻ em mang lại nhiều lợi ích to lớn cho sức khỏe
Vận động thể lực theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là bất kỳ chuyển động nào của cơ thể do hệ cơ xương tạo ra và có tiêu hao năng lượng. Nói đơn giản, chỉ cần cơ thể chúng ta di chuyển và “đốt” năng lượng thì đó đã được xem là vận động. Điều này không chỉ là chơi thể thao mà còn bao gồm cả những hoạt động quen thuộc hằng ngày như đi bộ, đạp xe, làm việc nhà, leo cầu thang hay di chuyển đến trường, nơi làm việc. Dù ở mức độ trung bình hay mạnh, vận động đều mang lại lợi ích cho sức khỏe, và mỗi người hoàn toàn có thể lựa chọn hình thức phù hợp với khả năng của mình để vừa rèn luyện cơ thể, vừa tạo thêm niềm vui trong cuộc sống.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy mức độ vận động của trẻ em và thanh thiếu niên vẫn còn đáng lo ngại. Theo thống kê của WHO năm 2024, có đến 80% thanh thiếu niên trên thế giới chưa đạt mức vận động theo khuyến nghị, trong đó nhóm từ 11–17 tuổi chiếm tỷ lệ rất cao. Đáng chú ý, trẻ em nữ có xu hướng ít vận động hơn trẻ em nam. Tại Việt Nam, tình hình cũng tương tự khi phần lớn học sinh trong độ tuổi 11–17 chưa vận động đủ theo khuyến nghị, đặc biệt tỷ lệ ở trẻ em nữ không vận động đủ ở mức rất cao (92%). Những con số này cho thấy thói quen ít vận động đang ngày càng phổ biến trong lứa tuổi học đường.
Trong khi đó, lợi ích của việc vận động thường xuyên là rất rõ ràng. Trẻ em và thanh thiếu niên vận động đầy đủ sẽ có thể lực tốt hơn, tim mạch khỏe mạnh hơn, xương chắc khỏe hơn, đồng thời cải thiện khả năng tập trung, ghi nhớ và tinh thần tích cực hơn. Vận động cũng giúp kiểm soát cân nặng và giảm mỡ thừa. Ngược lại, lối sống ít vận động là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra các bệnh không lây nhiễm. Người ít vận động có nguy cơ tử vong cao hơn so với người vận động đầy đủ, và ở trẻ em, tình trạng này có thể dẫn đến thừa cân – béo phì, tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường, rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng tập trung và ảnh hưởng đến kết quả học tập.
Chính vì vậy, các khuyến nghị về vận động thể lực đã được WHO ban hành nhằm hướng dẫn cụ thể về tần suất, cường độ và thời lượng vận động phù hợp cho từng nhóm đối tượng, từ trẻ em, thanh thiếu niên đến người trưởng thành và các nhóm đặc thù khác. Trong thời gian tới, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục chia sẻ các bài viết chi tiết về những khuyến nghị vận động thể lực dành cho lứa tuổi học đường, giúp phụ huynh, nhà trường và các em học sinh hiểu rõ hơn và chủ động xây dựng thói quen vận động tích cực mỗi ngày, vì một thế hệ khỏe mạnh và năng động hơn.
Nguồn: Phạm Nhật Thùy Đan – Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh
Chế độ dinh dưỡng không hợp lý, lối sống ít vận động là nguyên nhân dẫn đến thừa cân béo phì ở trẻ
Chế độ ăn giàu chất béo, đậm độ năng lượng cao có mối liên quan chặt chẽ với sự gia tăng tỷ lệ TC-BP. Khi khẩu phần năng lượng ăn vào vượt quá nhu cầu năng lượng của cơ thể dẫn đến năng lượng dư thừa được chuyển thành mỡ tích lũy trong các tổ chức/mô cơ thể.
Thói quen ăn nhanh, không nhai kỹ thức ăn, hay ăn vặt, sử dụng thức ăn nhanh (fast food), thích ăn ngọt, không ăn sáng, hay ăn nhiều vào buổi tối, đặc biệt là trước khi đi ngủ, …cũng là nguyên nhân dễ dẫn đến TC-BP ở trẻ.
Lối sống tĩnh tại như ít tập luyện thể dục thể thao, dành nhiều thời gian xem tivi, chơi trò chơi điện tử, … cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng TC-BP.
Ngoài ra, cũng có 10% trẻ bị TC-BP do những bệnh lý bẩm sinh di truyền có bất thường gen.
Trẻ bị thừa cân béo phì có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính khi trưởng thành
Trẻ béo phì có nguy cơ mắc các bệnh như người trưởng thành nhưng có thể nặng hơn do thời gian kéo dài, ảnh hưởng đến nội tiết và tâm lý của trẻ, bao gồm các vấn đề về tâm lý, tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, chuyển hóa bất thường glucose, rối loạn gan mật - đường ruột, khó thở khi ngủ.
Ảnh hưởng tâm lý xã hội: Khi trẻ bắt đầu đi học, trẻ sẽ dễ bị tự ti do bạn bè trêu ghẹo, chế giễu, dẫn đến chán chường, không muốn đi học. Dần dần các em trở nên thụ động, thiếu linh hoạt và cô đơn vì không có bạn, lâu dài sẽ dẫn đến trầm cảm. Tình trạng béo phì ở trẻ em thường kéo dài đến hết giai đoạn thiếu niên, ảnh hưởng đến sức khỏe và giảm thành công trong học tập nếu như không có các biện pháp kiểm soát việc ăn uống và vận động thể lực.
Yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm, các vấn đề về chuyển hóa: tình trạng kém dung nạp glucose, kháng insulin (nặng hơn là bệnh đái tháo đường), rối loạn chuyển hóa, tăng huyết áp, xơ vữa mạch máu, nhồi máu cơ tim, gan nhiễm mỡ… Tình trạng sỏi trong gan, gan nhiễm mỡ sớm có thể xây ra do tiêu thụ lượng lớn đường fructose và chất tạo ngọt High fructose corn syrup (HFCS) có trong nước có ga và các loại thực phẩm đóng hộp. Trẻ TC-BP có thể không có biểu hiện bệnh ở thời điểm hiện tại nhưng khi trưởng thành có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây như các bệnh tim mạch, đái tháo đường, gan nhiễm mỡ, ...
Biến chứng về giải phẫu: trẻ em béo phì có thể gặp các biến chứng về giải phẫu, nghiêm trọng nhất là bệnh Blount (một dị dạng xương chày do phát triển quá mạnh), dễ bị bong gân mắt cá chân.
Các biến chứng khác
Thoái hóa khớp, đau thắt lưng: khi trọng lượng cơ thể tăng thì sức nặng đè lên các khớp càng lớn dẫn đến các khớp này sớm bị tổn thương, gây đau đớn và khó khăn trong vận động, sinh hoạt hàng ngày.
Ảnh hưởng đến hệ hô hấp: giảm thông khí, khó thở khi ngủ. Tình trạng khó thở khi ngủ có thể gây ra chứng thở quá chậm, trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong.
Xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý và tăng cường vận động để phòng ngừa thừa cân béo phì ở trẻ
Xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý cả ở trường học và ở nhà. Cho trẻ ăn đúng giờ theo bữa, đảm bảo đa dạng thực phẩm, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng theo lứa tuổi. Không cho trẻ ăn quá nhiều thức ăn ngọt (bánh kẹo, nước ngọt, chè, kem, ...), thức ăn béo (trà sữa, thức ăn nhanh, đồ chiên, xào, mỡ động vật, ...).
Không nên bắt trẻ học quá nhiều, tạo điều kiện để trẻ có thể vui chơi, vận động sau những giờ học căng thẳng, thông qua các hoạt động đơn giản như đi bộ đến trường, tham gia các môn thể thao (nhảy dây, đá bóng, cầu lông, …), làm các công việc nhà (quét nhà, lau dọn nhà cửa, …).
Hạn chế cho trẻ ngồi lâu xem tivi, chơi trò chơi điện tử trên máy tính, điện thoại.
Trẻ cần được ngủ đủ trung bình từ 8 - 10 tiếng mỗi ngày.
Thường xuyên theo dõi cân nặng, chiều cao của trẻ để có biện pháp can thiệp kịp thời, dự phòng TC-BP.